Hạt lúa bị ngắt khúc

Qua mỗi lớp trung gian, khi đến tay người tiêu dùng, giá trị hạt lúa bị đẩy lên quá cao.

Để trở thành gạo, bán đến tay người tiêu dùng, hay đem đi xuất khẩu, hạt lúa của nông dân phải qua nhiều tầng nấc trung gian trong khâu phân phối như “cò” lúa, thương lái, nhà máy xay xát, chành, vựa mua gạo, doanh nghiệp xuất khẩu…
Qua mỗi lớp trung gian như vậy, khi đến tay người tiêu dùng, giá trị hạt lúa bị đẩy lên quá cao.

Ngắt khúc từ…“cò” lúa

“Cò” lúa cũng như “cò” chứng khoán, “cò” nhà đất, “cò” bệnh viện, “cò” giấy tờ hành chính…, họ chuyên lùng sục, săn tin tức về nhu cầu bán lúa của nông dân, sau đó “bán” lại thông tin cho lái hưởng hoa hồng.
Từ nhiều năm nay, thương lái thường đánh ghe đến tận nhà, thậm chí tận ruộng mua lúa nên ở đâu cũng xuất hiện “cò” lúa - làm cầu nối để nông dân và thương lái giao dịch.
Anh Nguyễn Văn Thuật, xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Cần Thơ, canh tác 1 ha lúa, than với chúng tôi: “Lúa hè thu đã gặt xong cả tuần nhưng đợi hoài không thấy lái vào đong. Giá lúa thì cứ tụt dốc không phanh. Sốt ruột, tôi mới phải năn nỉ “cò” Thành kiếm lái bán giùm hơn 5 tấn lúa để thanh toán tiền nợ phân bón, thuốc trừ sâu, công cắt...”.
Lúa khá đẹp, nhưng anh Thuật bán chỉ được giá bình quân 4.100đ/kg. Tính ra, năm tấn lúa anh thu được 20.500.000đ, trừ hết chi phí chỉ còn lãi gần 1 triệu đồng. Để bán lúa được giá đó, anh Thuật phải trả cho “cò” Thành mỗi tấn 20.000đ. Coi như anh Thuật mất đứt 100.000đ nữa trả công cho “cò” lúa.
Giống như anh Thuật, nhiều nông dân vùng ĐBSCL, hễ khi nào thị trường ế ẩm, ứ đọng lúa, nếu muốn bán được thì lại phải qua khâu “cò” mới mong có lái đến cân.
Một “cò” lúa cho biết, vào những thời điểm gạo hút hàng, doanh nghiệp tập trung mua vào xuất khẩu, thương lái muốn mua được nhiều lúa thì phải có hệ thống chân rết “cò” trải khắp vùng như anh.
Ngoài hoa hồng từ gia chủ, “cò” còn lấy của thương lái trung bình mỗi tấn lúa thêm 15.000đ nữa. Vị chi, khi bán một tấn lúa, nông dân phải mất thêm 35.000đ, vì tiền thương lái trả “cò” cũng được lấy từ tiền mua lúa từ phía nông dân.

Đến lái, doanh nghiệp, chành, vựa…

Ngoài tiền chi cho “cò”, đến lượt thương lái, nhà máy xay xát, vựa mua gạo và sau cùng là công ty xuất khẩu gạo, mỗi tầng nấc lại ngắt một khúc lợi nhuận trên hạt lúa của nông dân.
Chị Trần Thị Bông, cùng chồng là Vương Tài Hiến ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang có ghe 40 tấn chuyên đi mua lúa trong dân, cho biết, mặc dù lúa hè thu chưa thu hoạch rộ, nhưng thời điểm này, trung bình mỗi ngày chị vẫn gom trên 30 tấn lúa, lời không dưới 3 triệu đồng.
Sau khi mua lúa của nông dân về, với giá lúa thường hạt dài 4.250đ/kg, lúa IR 50404 từ 3.600-3.800đ/kg về, chị Bông đem xay xát, bán cho nhà máy lau bóng hoặc trực tiếp doanh nghiệp với giá 5.550đ/kg gạo thường và 5.300-5.400đ/kg gạo IR 50404. Tính ra, một kg lúa mua của nông dân, chị Bông lời 200-600đ.
Từ hạt gạo lức, qua lau bóng, cộng thêm chi phí lưu kho, vận chuyển, lãi suất ngân hàng, theo cách tính của doanh nghiệp, ra giá thành xuất khẩu là 7.200đ/kg gạo 5% tấm, tương đương khoảng 400 USD/tấn; gạo 10%, 15% khoảng 346 đến 370 USD/tấn.
So với giá xuất khẩu gạo trung bình từ đầu năm đến nay mà Hiệp hội lương thực VN (VFA) công bố là 409 USD/tấn (trong đó phần lớn là gạo cấp thấp), thì một tấn gạo, doanh nghiệp lời trên dưới 30 USD, tương đương 540.000đ. Tất nhiên, số lợi nhuận này chưa tính phần thặng dư thu được từ việc bán tấm, cám trong quá trình lau bóng gạo.
Nếu như thương lái, “cò”, doanh nghiệp, ba tầng nấc ngắt khúc lợi nhuận hạt lúa chỉ ở mức “khiêm tốn”, thì đến lượt chành, vựa “đẩy” giá trị hạt lúa lên gấp nhiều lần so với giá bán ra từ phía nông dân.
Theo tính toán, chi phi đầu vào cho những loại giống lúa thơm như jasmin, nàng thơm chợ đào, tài nguyên, tám thơm, thơm thái…chỉ chênh lệch so với lúa thường từ 10-15%, cao nhất là 20%.
Nông dân Nguyễn Phi Sơn Hỗ, ấp Phú Thuận, xã Tây Phúc, Thoại Sơn, An Giang cho biết, chi phí sản xuất lúa hè thu loại thường hiện nay trung bình 2.200-2.500đ/kg, lúa thơm jasmin cộng thêm khoảng 500đ nữa, cho ra giá thành tối đa 3.000đ.
Trong khi đó, giá lúa thường hạt dài mà nông dân đang bán là 4.250đ/kg, lúa thơm khoảng 4.300-4.400đ/kg, trừ phần chi phí, nông dân còn lời 140-200đ/kg, khoảng 140.000-200.000đ/tấn.
Như vậy, nếu lấy một kg lúa thơm, xay xát, lau bóng thì cho ra tỷ lệ gạo là 60%, tương đương 600 gram gạo. Hiện nay, giá bán lẻ tại các vựa đối với nhóm gạo này từ 14.000-18.000đ/kg, cá biệt có loại trên 21.000 đ/kg như tám thơm, thơm chợ đào…
Tính ra, một kg lúa qua tay nhà máy lau bóng, chành, vựa, bán đến tay người tiêu dùng đã tăng lên 8.400-12.600đ (600 gram bán với giá 14.000 đến 21.000đ), chênh lệch so với giá bán ra từ nông dân gấp 2 đến 5 lần.
Trên đây chỉ là cách tính tương đối. Nhưng rõ ràng, với việc có quá nhiều tầng nấc tham gia vào khâu phân phối, lưu thông đã đẩy giá trị thực hạt lúa lên quá cao. Nông dân, người trực tiếp sản xuất thu về lợi nhuận quá thấp, trong khi người tiêu dùng chịu thiệt thòi nhiều nhất.

Theo Đặng Hoàng (SGTT)

eZ Publish™ copyright © 1999-2012 eZ systems as